Thứ năm, 14/05/2015, 10:06:10
Chào mừng bạn đến với trang thông tin điện tử Xã Trà Don

Chi tiết tin

HĐND tỉnh ban hành nhiều chính sách, quy định mới

Trong số 29 nghị quyết được HĐND tỉnh thảo luận và thông qua tại kỳ họp thứ tư, có đến 12 nghị quyết quy phạm pháp luật quy định về cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội. Đáng chú ý là chính sách hỗ trợ tham gia BHXH tự nguyện, bổ sung đối tượng hưởng trợ cấp xã hội ngoài quy định Nghị định 20/2021/NĐ-CP, cơ chế hỗ trợ chênh lệch tiền sử dụng đất đối với đất ở và đất tín ngưỡng khi Nhà nước thu hồi đất.




Bổ sung 07 nhóm đối tượng hưởng chính sách trợ giúp xã hội

Nghị quyết 43/2021/NQ-HĐND ngày 08/12/2021 quy định mức chuẩn trợ giúp xã hội, mức trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội và các đối tượng khó khăn khác trên địa bàn tỉnh là nội dung được HĐND tỉnh ban hành nhằm cụ thể hóa Nghị định 20/2021/NĐ-CP của Chính phủ.

Đáng chú ý, HĐND tỉnh đã bổ sung 07 nhóm đối tượng hưởng chính sách trợ giúp xã hội ngoài quy định tại Điều 5 Nghị định 20/2021/NĐ-CP của Chính phủ như: (1) Người khuyết tật là thế hệ thứ ba của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học. (2) Trẻ em dưới 03 tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo. (3) Trẻ em dưới 16 tuổi mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại (mẹ hoặc cha) mất thông tin liên lạc. (4) Người từ 16 đến 22 tuổi mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại (mẹ hoặc cha) mất thông tin liên lạc; đang học văn hóa, học nghề, trung hoc chuyên ̣ nghiêp̣, cao đẳng, đại học văn ̣ bằng thứ nhất. (5) Người cao tuổi từ đủ 75 tuổi đến 80 tuổi thuộc diện hộ nghèo. (6) Trẻ em dưới 16 tuổi có cha hoặc mẹ bị khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo đang hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng tại cộng đồng hoặc đang nuôi dưỡng tại các cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội. (7) Người bị mắc một trong các bệnh hiểm nghèo theo quy định của cơ quan y tế có thẩm quyền, trừ những người được hưởng chế độ tiền lương; tiền công; lương hưu; các chế độ chính sách trợ cấp, trợ giúp, phụ cấp ưu đãi thường xuyên, hằng tháng.

HĐND tỉnh quy định mức chuẩn trợ giúp xã hội áp dụng cho các đối tượng bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh là 360.000 đồng/tháng. Riêng mức chuẩn trợ giúp xã hội áp dụng chăm sóc nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội là 450.000 đồng/tháng. Đây là căn cứ xác định mức trợ cấp xã hội; mức hỗ trợ kinh phí nhận chăm sóc, nuôi dưỡng; mức trợ cấp nuôi dưỡng trong cơ sở trợ giúp xã hội và các mức trợ giúp xã hội khác trên địa bàn tỉnh.

Mức trợ giúp xã hội hằng tháng đối với 07 nhóm đối tượng bổ sung được quy định bằng mức chuẩn trợ giúp xã hội nhân với hệ số, trong đó thấp nhất là hệ số 1,0 và cao nhất hệ số 1,5. Ngoài ra, 07 nhóm đối tượng này còn được hỗ trợ chi phí mai táng khi chết bằng 20 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội; được cấp thẻ bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế (trường hợp đối tượng thuộc diện được cấp nhiều loại thẻ bảo hiểm y tế thì chỉ được cấp một thẻ bảo hiểm y tế có quyền lợi bảo hiểm y tế cao nhất).

Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 20.12.2021, dự kiến mỗi năm ngân sách nhà nước bố trí khoảng 30 tỷ đồng để thực hiện.

Hỗ trợ mức đóng cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện

Theo Nghị quyết 41/2021/NQ-HĐND ngày 08.12.2021 của HĐND tỉnh (có hiệu lực từ ngày 20.12.2021) thì công dân Việt Nam từ 15 tuổi trở lên và không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật BHXH, có hộ khẩu thường trú trên địa bàn tỉnh Quảng Nam tham gia BHXH tự nguyện thì ngoài tỷ lệ phần trăm được hỗ trợ theo Nghị định số 134/2015/NĐ-CP ngày 29/12/2015 của Chính phủ sẽ được ngân sách tỉnh hỗ trợ tăng thêm tỷ lệ phần trăm trên mức đóng BHXH tự nguyện hàng tháng theo mức chuẩn hộ nghèo khu vực nông thôn (quy định tại Nghị định số 07/2021/NĐ-CP ngày 27/01/2021 của Chính phủ). Cụ thể, sẽ hỗ trợ tăng thêm 10% đối với người tham gia BHXH tự nguyện thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo; hỗ trợ tăng thêm 5% đối với các đối tượng khác.

Cụ thể các đối tượng tham gia BHXH tự nguyện được hưởng chính sách hỗ trợ mức đóng gồm: (1) Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn dưới 01 tháng. (2) Người hoạt động không chuyên trách ở thôn, bản, tổ dân phố, khu phố. (3) Người lao động giúp việc gia đình. (4) Người tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không hưởng tiền lương. (5) Xã viên không hưởng tiền lương, tiền công làm việc trong hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã. (6) Người nông dân, người lao động tự tạo việc làm bao gồm những người tự tổ chức hoạt động lao động để có thu nhập cho bản thân và gia đình. (7) Người lao động đã đủ điều kiện về tuổi đời nhưng chưa đủ điều kiện về thời gian đóng để hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội. (8) Người tham gia khác.

Đây là chính sách được ban hành với mục đích động viên, khuyến khích người dân nâng cao nhận thức và tham gia BHXH tự nguyện, tăng tỷ lệ bao phủ BHXH, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh trong thời gian đến. Thời gian hỗ trợ sẽ được tính theo thời gian thực tế tham gia BHXH tự nguyện của từng đối tượng từ ngày 01.01.2022 đến ngày 31.12.2025. Dự kiến kinh phí do ngân sách tỉnh hỗ trợ khoảng 37,2 tỷ đồng.

Hỗ trợ chênh lệch tiền sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất

Với quan điểm chính sách hỗ trợ chênh lệch tiền sử dụng đất tái định cư cần được xem xét nhằm tối ưu hóa quyền lợi của người có đất ở, đất tín ngưỡng bị thu hồi, đảm bảo đời sống Nhân dân tái định cư tại nơi ở mới phải ổn định lâu dài và tốt hơn nơi ở cũ, HĐND tỉnh đã thảo luận và ban hành Nghị quyết 46/2021/NQ-HĐND quy định cơ chế hỗ trợ chênh lệch tiền sử dụng đất đối với đất ở và đất tín ngưỡng khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh.

Theo đó, trong trường hợp đơn giá đất ở, đất tín ngưỡng bồi thường thấp hơn đơn giá đất ở, đất tín ngưỡng tại khu tái định cư thì đối tượng bị thu hồi đất được hỗ trợ.

 Đối với đất ở là lô tái định cư thứ nhất:  Trường hợp diện tích đất ở bị thu hồi lớn hơn diện tích đất ở bố trí tái định cư thì Nhà nước hỗ trợ phần chênh lệch giữa giá đất ở tái định cư và giá đất ở bồi thường tương ứng với diện tích đất ở bố trí tái định cư.

Trường hợp diện tích đất ở bị thu hồi nhỏ hơn diện tích đất ở bố trí tái định cư thì Nhà nước hỗ trợ phần chênh lệch giữa giá đất ở tái định cư và giá đất ở bồi thường tương ứng với diện tích đất ở bị thu hồi, phần diện tích chênh lệch của lô đất tái định cư còn lại hộ gia đình, cá nhân phải nộp tiền vào ngân sách Nhà nước theo giá đất ở tái định cư.

Từ lô tái định cư thứ hai trở đi: Nhà nước hỗ trợ phần chênh lệch giữa giá đất ở tái định cư và giá đất ở bồi thường tương ứng với diện tích lô đất tái định cư được giao thuộc đối tượng được hỗ trợ chênh lệch tiền sử dụng đất tái định cư.

Đối với đất tín ngưỡng: Trường hợp diện tích đất tín ngưỡng bị thu hồi lớn hơn diện tích đất tín ngưỡng tại khu tái định cư thì Nhà nước hỗ trợ chênh lệch giữa giá diện tích đất tín ngưỡng tái định cư với giá đất bồi thường tương ứng với diện tích đất tính ngưỡng được giao tại khu tái định cư.

Trường hợp diện tích đất tín ngưỡng bị thu hồi nhỏ hơn diện tích đất tín ngưỡng tại khu tái định cư thì Nhà nước hỗ trợ chênh lệch giữa giá đất tín ngưỡng tái định cư với giá đất bồi thường tương ứng với diện tích đất tín ngưỡng bị thu hồi. Phần diện tích đất tín ngưỡng tái định cư còn lại (nếu có), thì phải nộp tiền vào ngân sách nhà nước theo giá đất tín ngưỡng tái định cư./.

Tác giả: Thành Nhân

Nguồn tin: Văn phòng HĐND tỉnh


[Trở về]

Các tin mới hơn:

Các tin cũ hơn:

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ XÃ TRÀ DON - NAM TRÀ MY - TỈNH QUẢNG NAM
Địa chỉ: Xã Trà Don - Nam Trà My - Quảng Nam
Phát triển bởi Trung Tâm Công Nghệ Thông Tin & Truyền Thông Quảng Nam (QTI)